nghệ thuật chí phèo
Tạp chí điện tử Nhiếp ảnh và Đời sống. Cơ quan chủ quản: Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam. Giấy phép hoạt động báo chí in số: 657/GP-BTTT cấp ngày 29/12/2017 (Phiên bản điện tử chạy thử nghiệm chờ cấp phép)
Sự ra đi của ông khiến công chúng cảm thấy bất ngờ. Không ít người tiếc thương cho cuộc đời của anh "Chí Phèo" đã từng đi sâu trong lòng khán giả. Nhắc đến nghệ sĩ Bùi Cường là nhắc đến nhân vật Chí Phèo năm nào trong bộ phim "Làng Vũ Đại ngày ấy". Bộ
Có thể nói nhân vật Chí Phèo đã đóng đinh vào cuộc đời làm nghệ thuật của mình. Đến sau này, đầu những năm 90 tôi làm công tác đạo diễn, vài chục phim truyền hình, 3 phim nhựa cộng với một số phim thị trường thời mì ăn liền, có nhiều phim tốt, nhưng nhân vật Chí
1. Nghệ thuật điển hình hoá nhân vật: Chí Phèo, Bá Kiến là những điển hình đặc sắc trong tác phẩm. Vừa sinh động, độc đáo, không lặp lại, các nhân vật này mang sức khái quát cao cho mối xung đột diễn ra khốc liệt ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng, đặc biệt là nhân vật Chí Phèo.
a) Giới thiệu nhân vật Chí Phèo và dẫn dắt đến đoạn trích. Chí Phèo là một điển hình nghệ thuật về người nông dân từ lương thiện rơi vào tha hóa trở thành quỷ dữ rồi bị gạt ra ra khỏi xã hội loài người, cuối cùng quay trở về với khát vọng "làm người lương thiện" và rơi vào bi kịch bị từ chối…
NSƯT Bùi Cường, người đóng đinh với vai diễn Chí Phèo nổi tiếng trong bộ phim "Làng Vũ Đại ngày ấy" có một chặng đường hoạt động nghệ thuật thật đáng tự hào. Ngay cả khi tuổi đã cao, ông vẫn miệt mài trên con đường đã định.
belbootsbesdown1981. Bài làm tham khảo“Chí Phèo” thật sự là một kiệt tác, thể hiện đầy đủ nhất tài năng nghệ thuật xuất sắc, độc đáo của nhà văn Nam Bút pháp điển hình hoá đạt tới trình độ bậc thầy trong xây dựng nhân vật. Nam Cao có biệt tài trong việc miêu tả, phân tích tâm lý nhân vật. Tác giả có khả năng trong việc miêu tả tâm lý phức tạp của nhân vật, làm cho nhân vật hiện lên trước mắt người đọc rất sống động, có cá tính độc đáo. Chí Phèo, Bá Kiến là những điển hình nghệ thuật bất hủ. Họ vừa tiêu biểu cho một loại người có bề dày xã hội, vừa là những con người rất cụ thể, có sức sống nội tại mạnh Khác với những nhân vật của một số nhà văn đương thời có chức năng chủ yếu là khái quát tính cách nhân vật. “Chí Phèo” của Nam Cao đã khái quát một hiện tượng phổ biến đã trở thành quy luật trong xã hội lúc bấy giờ; hiện tượng những người nông dân nghèo lương thiện do bị áp bức bóc lột đè nén nặng nề bị đẩy vào con đường tha hoá lưu Tuy nhiên nhân vật của Nam Cao còn thể hiện như một nhân vật có cá tính hết sức độc đáo, không lặp lại, vừa đa dạng vừa thống nhất. Chí Phèo vừa là kẻ bán rẻ cả nhân tính, nhân hình để tồn tại, vừa là kẻ dám thủ tiêu sự sống của mình khi nhân phẩm đã trở về. Chí Phèo vừa là con quỷ dữ của làng Vũ Đại, một thằng triền miên chìm trong cơn say đến mất cả lý trí, vừa là kẻ khao khát lương thiện, muốn làm hoà với mọi người, vừa là một kẻ nô lệ thức tỉnh, một đầu óc sáng suốt nhất, tỉnh táo nhất của làng Vũ Đại khi đặt ra những câu hỏi có tầm khái quát sâu sắc về quyền được làm người lương thiện đến mức Bá Kiến cũng phải ngạc nhiên, Chí Phèo vừa là kẻ cố cùng, vừa là người tự xưng “anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta”2. Nghệ thuật trần thuật kể truyện linh hoạt tự nhiên phóng túng mà vẫn nhất quán, chặt chẽ, đảo lộn trình tự thời gian, mạch tự sự có những đoạn hồi tưởng, liên tưởng tạt ngang, tưởng như lỏng lẻo mà thực sự rất tự nhiên, hợp lý, hấp Ngôn ngữ của Nam Cao cũng đặc biệt tự nhiên, sinh động, sử dụng khẩu ngữ quần chúng một cách triệt để, mang hơi thở đời sống, giọng văn hoá đời sống. Ngôn ngữ kể chuyện vừa là ngôn ngữ của tác giả, vừa là ngôn ngữ của nhân vật, nhiều giọng điệu đan xen, tạo nên một thứ ngôn ngữ đa thanh đặc sắc.“Chí Phèo” đánh dấu một trình độ phát triển mới của văn học và nghệ thuật viết truyện ở nước Thầy Nguyễn Quang NinhBình luận cho bài viết Nhận xét
HƯỚNG DẪN TRUYỆN NGẮN CHÍ PHÈO - Chí Phèo lúc đầu được Nam Cao đặt tên là Cái lò gạch cũ, khi ra mắt độc giả lần đầu, để “câu khách”, nhà xuất bản tự ý đổi tên thành Đôi lứa xứng đôi in trong tập Đôi lứa xứng đôi, gồm 11 truyện ngắn, NXB Đời mới, Hà Nội, 1941. Sau này, khi in lại trong tập Luống cày Hội Văn hoá cứu quốc xuất bản, Hà Nội, 1946, Nam Cao đặt lại tên truyện là Chí Phèo. - Chí Phèo là truyện ngắn xuất sắc nhất của Nam Cào và được coi là một kiệt tác của văn xuôi hiện đại Việt Nam. Qua truyện ngắn này, có thể thấy được bút pháp hiện thực độc đáo, mới mẻ và tinh thần nhân đạo sâu sắc của Nam Cao. Đoạn trích trong SGK tuy đă lược bớt vài đoạn vì truyện quá dài, nhưng người đọc vẫn có thể hình dung được toàn bộ câu chuyện và nắm được tinh thần tác phẩm. NỘI DUNG l. Cuộc đời cùng quẫn của Chí Phèo - Vốn là một đứa trẻ bị bỏ rơi “trần truồng và xám ngắt trong một váy đụp để bên cái lò gạch bỏ không”, Chí Phèo được người làng nhặt về và chuyền tay nhau nuôi, lớn lên Chí đi làm canh điền cho lí Kiến, bị ông lí ghen rồi đẩy vào tù. - Ở tù ra, Chí Phèo biến đổi hẳn, từ một anh nông dân hiền lành, lương thiện, hắn trở thành một kẻ côn đồ cả về tâm tính lẫn ngoại hình “cái đầu thì trọc lốc cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen và rất câng câng”, ngực và cánh tay “đầy những nét chạm trổ” người ta thấy hắn “ngồi ở chợ uống rượu với thịt chó suốt từ sáng đến chiều”, và “cứ rượu xong là hắn chửi”, có khi còn “lăn lộn dưới đất, vừa kêu vừa lấy mảnh chai cào vào mặt” để “ăn vạ”,... - Một lần đến nhà bá Kiến rạch mặt ăn vạ, Chí Phèo bị ông bá dụ dỗ, giao cho việc đi đòi nợ đội Tảo, từ đó hắn trở thành tay sai đắc lực của bá Kiến. Chí Phèo không ý thức được mình đã biến thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”, “làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện”, bởi vì hắn làm tất cả những việc người ta sai hắn làm trong lúc say. Mà những cơn say của hắn thì triền miên, không bao giờ chấm dứt, “hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say... đập đầu rạch mặt, chửi bới, doạ nạt trong lúc say...”. Đến cái mặt của hắn cũng biến đồi, “không còn phải là mặt người nó là mặt một con vật lạ”, nó “vàng vàng mà lại muốn sạm màu gio”, nó “vằn dọc vần ngang, không thứ tự, biết bao nhiêu là sẹo”. Cuộc đời chí Phèo tiêu biểu cho số phận bi thảm của những người nông dân cùng khố trong xã hội cũ. Thế lực của bọn cường hào ác bá ở thôn quê kết hợp với nhà tù thực dân đã đẩy người nông dân lương thiện vào con đường lưu manh hoá, dẫn đến sự huỷ hoại cả nhân tính lẫn nhân hình. 2. Ước muốn được trở lại làm người lương thiện của Chí Phèo - Cuộc đời Chí Phèo sẽ mãi mãi ngập sâu trong tội ác nếu không có sự gặp gỡ với thị Nở. Giữa người đàn bà đần độn, “xấu ma chê quỷ hờn” và một gã đàn ông “chỉ sống bằng cướp giật và doạ nạt” đã nảy xinh một tình cảm trong sáng nhất của loài người tình yêu. Tình cảm ấy đã thức dậy ở Chí Phèo niềm khao khát về một mái ấm gia đình giản dị, yên bình “chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải...”. Chí Phèo và thị Nở đã nhất định lấy nhau để sống một cuộc đời lương thiện như bao nhiêu người khác. - Con đường hoàn lương của Chí Phèo đã gặp ngay trở ngại đầu tiên bà cô của thị Nở. Định kiến về Chí Phèo - “một thằng không cha”, “chỉ có một nghề là rạch mặt ra ăn vạ” - đã khiến bà cô coi việc thị Nở định lấy Chí Phèo là một sự “nhục nhã” không thể chấp nhận được. Bà trút tất cả sự uất ức vào thị Nở. Và thị Nở, trong cơn giận dữ, tìm đến Chí Phèo và “trút vào mặt hắn tất cả lời của bà cô”. - Chí Phèo sửng sốt, hấn uống thật say để đến nhà thị Nở “đâm chết cái con khọm già nhà nó”, nhưng bước chân quen đường trong cơn say lại đưa hắn đến nhà bá Kiến. Khác với mọi lần, Chí không nhận tiền mà dõng dạc yêu cầu “Tao muốn làm người lương thiện”. Trong cơn say, Chí Phèo vẫn tỉnh táo nhận rạ Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa”. Con đường trở lại làm người lương thiện của Chí Phèo đã hoàn toàn bế tắc, bằng trực giác, Chí đã nhận đúng mặt kẻ thù, hắn xông vào đâm chết bá Kiến và tự kết liễu đời mình. Nam Cao đã nhận ra ngay trong những con người tưởng như đã mất hết nhân tính vẫn còn le lói chút ánh sáng của lương tri. Mô tả con đường hoàn lương đau đớn, bi kịch không được làm người của Chí Phèo, nhà văn đã thể hiện một tấm lòng nhân đạo sâu sắc, đầy sự cảm thông đối với lớp người dưới đấy”. NGHỆ THUẬT 1. Xây dựng tính cách điển hình sắc nét - Nhân vật Chí Phèo Đây là hình tượng thành công nhất của ngòi bút hiện thực Nam Cao. Chí Phèo không chỉ điển hình cho một bộ phận cố nông bị lưu manh hoá mà nhân vật này còn mang ý nghĩa khái quát rộng lớn cuộc đời và số phận của Chí thể hiện một quy luật có tính phổ biến trong xã hội cũ là quy luật bần cùng hoá, rồi đi đến lưu manh hoá của những người dân lành. Trong tác phẩm, Chí Phèo hiện hình thành “con quỷ dữ” chuyên đập phá, kêu gào, chửi bới, rạch mặt ăn vạ với những cơn say triền miên, bất tận... Đó là tính cách riêng của Chí, nhưng con đường tha hoá của Chí Phèo cũng là con đường của những năm Thọ, binh Chức,... trong tác phẩm. Mỗi người một cảnh, họ đều là nạn nhân của bọn cường hào ác bá ở đây là bá Kiến và là sản phẩm của nhà tù thực dân. Còn những thế lực bạo tàn đó thì hiện tượng Chí Phèo vẫn còn tiếp diễn, không phải vô cớ mà tác giả đã nhắc lại hình ảnh “cái lò gạch bỏ không” ở cuối truyện. Với ngòi bút phân tích tâm lí sắc sảo, Nam Cao đã khắc hoạ thành công hình tượng Chí Phèo, một nhân vật điển hình vừa có tính riêng sinh động vừa mang tính chung phổ biến. Nét đặc sắc riêng của hình tượng Chí Phèo còn được khắc hoạ sâu sắc hơn trong bi kịch của nhân vật. Khi lương tri thức tỉnh, Chí thèm khát được trở lại làm người lương thiện thì lại bị chính cái xã hội của những người lương thiện chối bỏ. Lần đầu tiên, cơn giận dữ của Chí Phèo mang nỗi uất hận đau đớn của một kẻ không được làm người. Sự thức tỉnh của Chí Phèo là một phát hiện sâu sắc, đầy tính nhân đạo của Nam Cao khi xây dựng nhân vật điển hình. - Nhân vật bá Kiến Bên cạnh Chí Phèo, bá Kiến cũng là một tính cách điển hình chân thực và sinh động. Người ta không thể quên được “cái cười Tào Tháo” của cụ bá cùng những toan tính nham hiểm của nhân vật này “Hãy ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi lại dắt nó lên để nó đền ơn. Hãy đập bàn đập ghế, đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi thì lại vứt trả lại năm hào “vì thương anh túng quá”. Vừa xảo quyệt, gian hùng vừa đê tiện, bá Kiến là nhân vật tiêu biểu cho lớp cường hào ác bá những đội Tảo, tư Đạm, bát Tùng,... Ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng, những kẻ có quyền sinh quyền sát, tha hồ làm mưa làm gió ở làng quê. Có thể nhận ra bàn tay của bá Kiến trong việc xô đẩy người dân lương thiện vào cảnh khốn cùng rồi biến họ thành tay sai gây tai hoạ cho chính những người lương thiện. Bá Kiến và những kẻ như hắn mới thực là “con quỷ dữ” giấu mặt của làng Vũ Đại. Từ tác phẩm, nhưng nhân vật điển hình như Chí Phèo, bá Kiến đã bưởc thẳng vào cuộc sông, tên nhân vật đã trở thành tên gọi chung cho loại người mang tính cách tương tự như nhân vật trong tác phẩm. Điều thú vị là những danh xưng ấy còn tồn tại dai dẳng cho đến ngày nay. 2. Cốt truyện dộc đáo, các tình tiết giàu kịch tính, luôn biến hoá mang lại nhiều bất ngờ cho người đọc Dù không được kể theo trình tự thời gian nhưng lai lịch và diễn biến cuộc đời của mỗi nhân vật đều được xâu chuỗi rất lôgíc và sinh động các sự kiện trong cuộc đời Chí Phèo được chắp nối qua lời trần thuật và dòng hồi ức rải rác trong truyện. Hầu như mỗi tình tiết đều ẩn chứa rất nhiều sự bất ngờ chỉ mấy lời ngọt nhạt mà bá Kiến đã dẹp yên được sự ăn vạ ầm ĩ của Chí Phèo, có nhiều chi tiết tưởng như ngẫu nhiên nhưng hoá ra lại là những móc xích bên trong nối vào nhau chặt chẽ chi tiết Chí Phèo xăm xăm đến nhà thị Nở nhưng bước chân lại dẫn hắn đến nhà bá Kiến, chi tiết thị Nở liếc nhìn bụng và nghĩ đến “cái lò gạch bỏ không”,.... Hành động quyết liệt của Chí Phèo và cái chết bi thảm của Chí là bước kết thúc bất ngờ nhưng nhất quán với sự phát triển của tính cách nhân vật. 3. Cách dẫn chuyện linh hoạt và vô cùng hấp dẫn Đoạn mở đầu rất độc đáo gây ấn tượng mạnh bi lối trần thuật nửa trực tiếp, có sự đan xen giữa lời người kể chuyện “Hắn vừa đi vừa chửi...” với độc thoại của nhân vật Ờ! Thế này thì tức thật!..J. Tác giả đã phá vỡ trật tự thông thường, dùng lối tự sự theo dòng nội tâm nhân vật để thuật lại diễn biến sự việc. Vì thế, trong lời trần thuật, hiện tại và hồi ức cứ lồng ghép vào nhau đoạn mở đầu, đoạn tả Chí Phèo “bâng khuâng tỉnh dậy sau một cơn say rất dài” ở cuối truyện,..., lời người kể và lời nhân vật có khi nhập vào nhau khiến cho điểm nhìn trần thuật cũng thay đổi một cách linh động lúc thì câu chuyện được thuật lại bằng một cái nhìn khách quan từ bên ngoài, lúc lại chuyển hoá thành điểm nhìn chủ quan của nhân vật từ bên trong. So với dung lượng của một truyện ngắn thì đây là một truyện tương đối dài, nhưng nó không hề nhàm chán bởi cách dẫn chuyện luôn biến ảo cùng những độc thoại nội tâm sinh động chẳng hạn độc thoại nội tâm của Chí Phèo sau cơn tỉnh rượu.
“Nam Cao đã không hạ mình xuống bắt chước ai, không nói những cái người ta đã nói, không tả theo cái lối người ta đã tả. Ông đã dám bước chân vào làng văn với những cạnh sắc của riêng mình. Những cạnh sắc ấy, nếu ông cứ giữ cho nó sắc mãi thì chúng ta có thể tin ở tương lai văn nghiệp ông. Vườn văn Việt Nam thiếu những bông hoa lạ, thiếu những nghệ sĩ táo bạo, thiếu những bản thể đặc biệt.” – Trích lời tựa tuyển tập “Đôi lứa xứng đôi”, nhà văn Lê Văn Trương viết. “Chí Phèo” được nhà văn Nam Cao đặt tên trong bản thảo là “Cái lò gạch cũ”, nhưng có lẽ nhằm gây chú ý cho công chúng đương thời, nhà văn Lê văn Trương khi viết lời tựa cho tập truyện đã đổi thành “Đôi lứa xứng đôi”. Về sau, khi in lại truyện này trong tuyển tập “Luống cày” tập truyện của 4 tác giả Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân tác giả Nam Cao đổi tên truyện của mình thành “Chí Phèo”. Xem thêm tác phẩm Việt Nam danh tác Tố Tâm Cánh hoa sa mưa Ai hát giữa rừng khuya – Gương mặt lạ trong Việt Nam danh tác Số đỏ Đứa con đáng tự hào của “Ông vua phóng sự đất Bắc” Truyền kì mạn lục Chuyện về người con gái Nam Xương “Chí Phèo” kể về cuộc đời người nông dân lương thiện bị lưu manh hóa. Chí là một đứa trẻ bị bỏ rơi ngay từ lúc lọt lòng, may mắn được người ta nhặt về nuôi rồi trở thành canh điền nhà kỳ mục Bá Kiến ở làng Vũ Đại. Vì ghen mà Bá Kiến đẩy Chí vào ngục giam. Bảy, tám năm sau Chí trở về làng gây sự với kẻ đã khiến mình đi tù, nhưng lại bị viên kỳ mục này lợi dụng, Chí trở thành tay chân của Bá Kiến, trở thành kẻ chuyên nghề đâm thuê chém mướn. Suốt vài chục năm liền Chí chìm trong những cơn say, làm việc ác trong lúc say, đến nổi không biết rằng mình đã trở thành một con quỷ dữ trong làng. Một ngày kia, sau một cuộc rượu say sưa, trên đường về nhà, giữa vườn chuối trên bãi sông, Chí bỗng thấy một người đàn bà. Chí gặp Thị Nở, sau buổi đêm ấy, sau cơn sốt ngày kế tiếp, sau bát cháo hành nghi ngút khói, cuộc đời Chí lần đầu tiên tỉnh táo sau bao nhiêu năm say… Chí thèm lương thiện, nhưng tất cả dường như đã muộn rồi. Câu chuyện xây dựng thành công sự xung đột vô cùng quyết liệt của hai nhóm người thuộc hai tầng lớp trong xã hội thực dân nửa phong kiến nhóm cường hào, vai vế bề trên gồm những Bá Kiến, Lý Cường, Đội Tảo… và nhóm cùng đinh lưu manh hóa gồm những Chí Phèo, Binh Chức, Năm Thọ… Nhóm cường hào cai trị, bòn rút đám đông dân quê, lại cũng cạnh tranh, sát phạt nhau… Chính vì vậy, nhóm cùng đinh lưu manh hóa đã được bọn cường hào sử dụng làm công cụ để trừng trị lẫn nhau và áp chế dân làng. Truyện “Chí Phèo” khái quát một hiện tượng xã hội ở làng quê Việt Nam trước năm 1945, một bộ phận nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường lưu manh hóa. Nhà văn đã kết án đanh thép cái xã hội tàn bạo tàn phá cả thể xác và tâm hồn người nông dân lao động, đồng thời khẳng định bản chất lương thiện của họ vẫn luôn cưỡng lại quá trình tha hóa đó, ngay cả khi bị vùi dập nhân hình, nhân tính. “Chí Phèo” là một tác phẩm có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc. Ngoài ra cũng rất mới mẻ bởi nghệ thuật ngôn ngữ đặc sắc của Nam Cao. Bằng ngôi thứ ba vô hình, biết tuốt, lời văn như kẻ đứng bên trong nhân vật, hoặc đứng kề nhân vật, khiến cho việc mô tả các biến động tâm lý nhân vật trở nên hết sức sinh động. Những cơn say của Chí Phèo, dòng suy nghĩ của Chí, sự chuyển hướng bất ngờ từ suy nghĩ sang hành động… Tất cả những mảnh vụn đều trở nên liền mạch, có lý, sáng tỏ và dễ hình dung. Truyện “Chí Phèo” hầu như được giới nghiên cứu và giới mộ điệu nhất trí xem là một kiệt tác, đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Nam Cao, đồng thời là kiệt tác đỉnh cao của văn xuôi tự sự Việt Nam những năm 1930 – 1945. “Chí Phèo” xuất hiện trong bộ môn nghệ thuật thứ bảy cùng với hai tác phẩm khác của Nam Cao là “Sống mòn” và “Lão Hạc”, bằng cái tên “Làng Vũ Đại ngày ấy” được sản xuất năm 1982 bởi đạo diễn, NSND Phạm Văn Khoa. Vai Chí Phèo do NSƯT Bùi Cường đảm nhận – cũng là nhân vật đưa tên tuổi của ông sống mãi với thời gian. “Làng Vũ Đại ngày ấy” là một bộ phim nổi tiếng được xếp vào hàng những tác phẩm kinh điển của nền điện ảnh Việt Nam thế kỷ XX. Nghệ thuật thoát ra từ những kiếp lầm than Điểm lại xuyên suốt sự nghiệp văn chương của Nam Cao, có thể khẳng định rằng ông đã luôn giữ được những “cạnh sắc” nguyên sơ như thuở ban đầu. Văn phong, tư tưởng và nghệ thuật của ông được định hình từ rất sớm, có lẽ vì vậy mà kiệt tác “Chí Phèo” đã ra đời ngay từ cuốn sách đầu tay. Tuyển tập truyện ngắn “Đôi lứa xứng đôi” là sản phẩm đầu tay của Nam Cao, ra mắt bởi NXB Đời Mới tại Hà Nội vào năm 1941, gồm 7 truyện Đôi lứa xứng đôi Chí Phèo Nguyện vọng Hai khối óc Giờ lột xác Chú Khì người đánh tổ tôm vô hình Ma đưa Cái chết của con Mực Xuất bản trong giai đoạn mà cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đang diễn ra khốc liệt, sự chú ý của người đương thời hầu như đều tập trung vào chiến trận từ châu Á tới châu Âu, có lẽ vì thế mà tập truyện “Đôi lứa xứng đôi” khá im ắng trong dư luận văn học nghệ thuật thời bấy giờ. Phải gần hai mươi năm sau đó, thời kỳ miền Bắc phục hồi các vết thương chiến tranh, đất Hà thành được hòa bình, các giá trị thực sự trong sáng tác của Nam Cao mới được thừa nhận rộng rãi trong giới sáng tác, nghiên cứu và phê bình văn học. Nếu “Chí Phèo” khai thác đề tài người nông dân bị nhóm cường hào áp bức đến tận cùng, bị lưu manh hóa thành công cụ gieo rắc tội lỗi dẫn đến kết cục đồng quy vô tận để giải thoát bản thân; thì “Nguyện vọng” là sự bế tắc của một nhà giáo nghèo với một mộng tưởng xa vời khi đất nước còn long đong; “Hai khối óc” là tình yêu tuyệt vọng giữa kẻ giàu người nghèo; “Giờ lột xác” là nỗi quằn quại của giới trí thức dưới chế độ cũ, đau đớn của thời kỳ lột xác – mà ánh sáng cách mạng là chất dẫn để thời kỳ đó kết thúc trong niềm hân hoan; “Cái chết của con Mực” cũng là trang viết về nỗi lòng lực bất tòng tâm của người trí thức nghèo trước thời cuộc; riêng hai truyện “Ma đưa” và “Chú Khì người đánh tổ tôm vô hình” thuộc loại truyện ma, trong đó Nam Cao ghi lại những nét thuộc đời sống tâm linh, tâm thức dị đoan của người dân các làng quê thời đấy. Nhân vật chính đều là những “kiếp lầm than” phản ánh đời sống bần hàn của người dân Việt Nam dưới ách thống trị của thực dân Nhật và thực dân Pháp trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Thông qua những tấn bi kịch của người nông dân và người trí thức trong xã hội cũ thể hiện trong từng tác phẩm, Nam Cao thể hiện sự quan tâm sâu sắc tới hai vấn đề lớn của con người là quyền được sống lương thiện và điều kiện để phát huy tài năng để sống một cuộc sống có ích, có ý nghĩa. Nam Cao không chỉ đồng tình với khát vọng sống lương thiện mà còn cổ vũ cho khát vọng được cống hiến, được sáng tạo của người trí thức, người nghệ sĩ chân chính. Tranh cãi về đề xuất bỏ tác phẩm “Chí Phèo” ra khỏi sách giáo khoa Cuối năm 2017, Nguyễn Sóng Hiền – lúc ấy là nghiên cứu sinh tiến sĩ trường ĐH Newcastle Australia – nêu quan điểm nên đưa tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao ra khỏi chương trình Ngữ Văn 11. Nguyễn Sóng Hiền lập luậnxf “Chí Phèo chẳng đại diện cho ai cả. Anh ta chỉ đơn giản là một đứa trẻ không được giáo dục, bị lưu manh hóa. Nếu nói rằng Chí đại diện cho tầng lớp nông dân bị áp bức thì thật là “tội nghiệp” cho nông dân mình quá. Trong thời gian làm thuê cho Bá Kiến, Chí vẫn được xem là con người trong xã hội ấy, người ta vẫn nhận nuôi Chí, cho ăn, cho công việc. Sau khi bị Bá Kiến đẩy đi tù vì ghen, Chí mới tha hóa. Khi Chí say, Chí chửi người đẻ ra Chí chứ đâu chửi xã hội. Sống trong xã hội hiện đại, một đứa trẻ rơi vào hoàn cảnh ấy, chưa chắc đã có cách xử sự khác hoặc cuộc đời khá khẩm hơn. Đó là một thực tế đau lòng phải chấp nhận. Chí Phèo phải bị phê phán vì hành vi cưỡng bức Thị Nở. Nở là người bị hại, bị Chí lợi dụng lúc ngủ say để cưỡng bức. Vậy thì tại sao chúng ta có thể ghép đôi cho một kẻ lưu manh với cô gái vô tội? Chưa kể sau này, Nở lại mang bầu và lại ôm thêm nỗi khổ vào thân. Dù đánh giá ở khía cạnh nào đi nữa, Chí vẫn là kẻ xấu.” Đọc được tin, bà Trần Thị Hồng con gái nhà văn Nam Cao bày tỏ rằng, bất cứ một tác phẩm văn học nào được đưa vào sách giáo khoa dạy cho học sinh chắc chắn phải được hội đồng biên soạn mổ xẻ nhiều góc cạnh, cân nhắc kỹ lưỡng, qua nhiều khâu, và tiếp thu ý kiến từ các chuyên gia, các nhà phê bình văn học. “Anh Nguyễn Sóng Hiền nói tác phẩm không có tính giáo dục là ý của cá nhân anh Hiền. Đây là lần đầu tiên gia đình tôi nghe được ý kiến trái chiều về tác phẩm.” – Bà Hồng chia sẻ. Bởi đây là “ý kiến trái chiều” hiếm hoi về tác phẩm được coi là kiệt tác của nền văn học trước năm 1945, từ một người có học thức cao, nên khiến dư luận khá xôn xao ở thời điểm đó. Khách quan thì, bất cứ một tác phẩm văn học kinh điển nào, ngoài giá trị văn học, chúng còn có giá trị lớn lao về mặt lịch sử, “Chí Phèo” cũng không ngoại lệ. Và khi phân tích các tác phẩm đó, cần đặt chúng vào thời gian lịch sử nơi chúng thuộc về, có thế thì mọi giá trị và tư tưởng mới tìm được vị trí đúng sáng. Với “Chí Phèo”, Nam Cao không chỉ viết về một cuộc đời bị lưu manh hóa và quá trình cưỡng lại sự phi nhân hóa đó, mà còn vẽ lại cả một thế hệ, một xã hội với những tầng lớp, những đau khổ mà người dân Việt Nam phải chịu đựng dưới ách thống trị thực dân, thấu được những điểm mù lịch sử, học sinh thời nay sẽ hơn bao giờ hết cảm thấy biết ơn Cách mạng Tháng Tám, biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vì nền hòa bình hiện tại đến nhường nào. Đây là một trong những giá trị giáo dục. “Chí là kẻ xấu” ? Không. Chí luôn khát khao thiện lương và thèm được thiện lương. Chí chỉ rạch mặt, chỉ ăn vạ, chỉ đáng sợ… khi Chí say, khi men rượu kiểm soát hành vi, Chí trở thành kẻ liều. “Thế đấy cái nghề đời hiền quá cũng hóa ngu, ở đâu chứ ở đất này đã ngu, đã nhịn thì chúng nó ấn cho đến không còn ngóc đầu lên được.” Cái xã hội mà công lý nằm trong tay kẻ có quyền và kẻ mạnh, đã ép buộc Chí phải trở thành kẻ liều. Thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ nhì sợ kẻ cố cùng liều thân, đời không cho Chí có cơ hội làm anh hùng, thì Chí phải liều mới có thể được sống. Chí Phèo là nhân vật của thời đại, là hình tượng đáng thương của người nông dân vốn thiện lương dưới chế độ thực dân nửa phong kiến bị ép vào đường cùng, đó là quy luật “con giun xéo mãi cũng quằn.” Đây là một trong những giá trị nhân đạo. Nam Cao là nhà văn hiện thực kiệt xuất, đồng thời là nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn. Chủ nghĩa nhân đạo lấy con người làm gốc, con người với tất cả mọi nhu cầu chính đáng, năng lực trần thế và hiện thực. Nhà phê bình văn học, nhà nghiên cứu văn học, cây bút biên dịch thông tin văn học nghệ thuật Lại Nguyên Ân viết “Điều đáng kể là Nam Cao không chỉ mô tả những nông dân lưu manh hóa như những con người bị tha hóa, mất nhân tính, trở thành những công cụ gieo rắc tội lỗi, gieo rắc sự kinh hoàng vào đời sống làng quê. Ở nhân vật Chí Phèo, như nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra, Nam Cao đã cho thấy cả xu thế tha hóa, vật hóa, phi nhân hóa ở những nông dân lưu manh hóa, lại cũng cho thấy cả sự cưỡng lại quá trình vật hóa, phi nhân hóa ở những nông dân ấy. Việc Chí Phèo đến nhà Bá Kiến đòi “được làm người lương thiện”, rồi biết rằng không thể nào xóa đi những tội lỗi mình từng gây ra theo lệnh viên kỳ mục ấy, Chí xông đến giết lão rồi tự sát – hành vi ấy được nhiều nhà nghiên cứu xem như biểu hiện sự cưỡng chống quyết liệt trước xu thế tha hóa ấy của người nông dân, của con người nói chung.” PGS Đỗ Ngọc Thống, Tổng chủ biên chương trình môn Ngữ văn mới, thẳng thắn cho rằng quan điểm đưa tác phẩm Chí Phèo ra khỏi sách Ngữ văn lớp 11 của nghiên cứu sinh Nguyễn Sóng Hiền, là không đáng bàn. Vài nét về Nam Cao Nam Cao 1917 – 1951 tên thật là Trần Hữu Tri, không những là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất thế kỷ XX, mà còn là một chiến sĩ, liệt sĩ. Trước Cách mạng, ông là nhà văn hiện thực lớn. Sau Cách mạng, ông là một nhà báo kháng chiến. Nam Cao có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện phong cách truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XX. Nam Cao đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại 60 truyện ngắn, 1 tiểu thuyết. Các tác phẩm của nhà văn Nam Cao nói chung, trong tuyển tập truyện ngắn “Đôi lứa xứng đôi” nói riêng, điển hình là “Chí Phèo”, thuộc dòng văn học hiện thực mang hơi thở của thời đại, có giá trị văn học, lịch sử, giáo dục và nhân đạo vô cùng to lớn trong kho tàng văn học nước nhà. Quan điểm sáng tác của Nam Cao trước Cách mạng Trước Cách mạng, Nam Cao có hai quan điểm sáng tác chính. Một là, văn chương phải chân thực, phản ánh đúng bản chất cuộc sống. Hai là, văn chương cần sáng tạo. Giao thoa giữa hai quan điểm ấy, văn chương phải phản ánh cuộc sống nhưng không nên sao chép y nguyên hiện thực cuộc sống, nhà văn cần phải sáng tạo dựa trên trách nhiệm và thiên chức của người cầm bút. “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật có thể chỉ là những tiếng đau khổ kia thốt ra từ những kiếp lầm than.” – Trích “Giăng sáng” 1942 – Nam Cao. Ở tập truyện ngắn đầu tay này, Nam Cao tập trung khám phá xã hội làng quê người Việt, cụ thể là làng xã miền Bắc, nơi mà sự phân tầng xã hội đã chia thành những nhóm người, những loại người, từ những dân làng vô danh, người nông dân, nhà giáo nghèo, viên chức nhỏ đến bọn cường hào, địa chủ… mà nhân vật chính thường là người nông dân và người trí thức nghèo. Những nhân vật trong văn của Nam Cao đều rất đời, được lấy cảm hứng từ chính những con người mà ông từng tiếp xúc. Link mua sách Fahasa Shopee Tiki Lazada Duyên Nếu bạn thấy bài viết này hay, xin ủng hộ team bằng cách dành thêm một giây để click vào quảng cáo. Chỉ 1s thôi, nhưng là cách tuyệt vời để duy trì blog mãi mãi
Những tác phẩm của Nam Cao, tựa như những lưỡi dao đanh thép, xóa tan đi cái vẻ ngấm ngầm yên ả của một làng quê, một xã hội tàn tạ, một đất nước đang chịu cảnh tù đày. Ở Nam Cao, chất hiện thực tồn tại một cách nặng nề, ám ảnh. Cái đói, cái ăn, cái mặc quẩn quanh những nhân vật của ông, thi nhau giằng xé và đẩy chính nhân vật đến đường cùng. Nam Cao cũng là nhà văn đi đầu trong văn học hiện thực với những tư tưởng về nghệ thuật mới lạ. Trong đó, không thể không nhắc tới những không gian nghệ thuật trong các tác phẩm của ông. Không gian trong các sáng tác của Nam Cao hầu hết là vùng nông thôn, những căn nhà nơi thôn dã, những con đường làng. Trong những mối liên hệ của thời gian và không gian, làng quê, ngôi nhà, con đường hóa ra là cơ bản và quan trọng nhất, được thể hiện rất rõ qua tác phẩm Chí Phèo. Phân tích chi tiết bát cháo hành của Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo Review "Sống mòn" Nam Cao - Sống mòn cái kiếp đời thừa Những cuốn sách thiếu nhi hay nhất mọi thời đại Không gian làng Vũ Đại Khác với nhiều truyện ngắn cùng đề tài của tác giả, “Chí Phèo” có phạm vi hiện thực được phản ánh trải ra trên cả bề rộng không gian một làng quê. Có thể nói, làng Vũ Đại trong truyện chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội phong kiến nông thôn Việt Nam đương thời. Miêu tả về không gian làng Vũ Đại, tác giả đã dùng câu “ quần ngư tranh thực”, để diễn tả khung cảnh hỗn loạn trong một làng quê vốn dĩ tưởng yên bình. Quan lại ức hiếp nhân dân, địa chủ đè đầu nông dân, giai cấp thống trị tận hưởng hạnh phúc dựa trên nỗi đau và nước mắt của giai cấp bị trị. Không gian rộng lớn, bao trùm toàn bộ tác phẩm. Làng Vũ Đại – một cái làng đầu tỉnh cuối huyện, vừa hẻo lánh vừa xơ xác, một mảnh đất nghèo túng. Làng Vũ Đại trong “Chí Phèo” lại mang cái vẻ vắng lặng, hoang vu của một vùng quê xơ xác, chất chứa nhiều bất hạnh và đắng cay. Trong không gian u ám, tù túng ấy, đã có biết bao nhiêu số phận giống như Chí Phèo bị đày đọa. Không gian ở đây “yên tĩnh quá” đến nỗi người ta có thể nghe thấy “tiếng thở ra u ám” của những “giậu tre rậm như rừng”, thậm chí có thể nghe thấy cả “tiếng kêu rầm rĩ của những thớ gỗ trong cái kèo cái cột, hình như chúng tê mỏi mà vươn mình hay sốt ruột mà rên lên” .Cái không gian vắng lặng ấy đôi khi cũng bị khuấy lên bởi những tiếng hờ, tiếng khóc, tiếng chửi trời chửi đất, sau đó, cả làng quê lại như chìm lặng đi trong đói khát, ốm đau và tủi nhục. Làng Vũ Đại hiện lên với một vẻ hoàn toàn khác những gì người ta mường tượng về một làng quê, không còn cái vẻ yên bình của một vùng nông thôn, mà tồn tại những cơn sóng đang đe dọa những phận đời, phận người. Tất cả đều như đang cố gắng dồn con người vào đường cùng, ép họ phải chết, phải kết thúc cuộc đời của mình ngay trước ngưỡng cửa của sự lương thiện. Không gian túp lều ven sông Không gian sống của Chí Phèo nằm cạnh bờ sông, nơi con nước trong lành , nơi duy trì nguồn sống của con người, nơi có ánh trăng vàng rực rỡ, ấm áp, có tiếng chim hót ríu rít, có tiếng nói cười vui vẻ của những người đi chợ về. Ở đấy, vào “những đêm trăng như đêm nay, cái vườn phẳng ngổn ngang những bóng chuối. Những tàu chuối nằm ngửa, ưỡn cong cong lên hứng lấy trăng rời rợi như là ướt nước, thỉnh thoảng bị gió lay giãy lên đành đạch như là hứng tình”. Nơi một người được cho là tên côn đồ ở, là nỗi khiếp sợ của mọi người lại tách biệt hoàn toàn với thế giới lộn xộn bên ngoài, đẹp đẽ với sự bình yên thật sự. Túp lều ven sông – tài sản duy nhất của Chí Phèo được miêu tả với không gian “ẩm thấp” và ánh sáng “ hơi lờ mờ”. “Ở đâu người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng”. Túp lều ấy “Ở gần một con sông con, nước lặng và trong, khắp bãi trồng toàn dâu, gió đưa đẩy những thân mềm oặt ẹo, cuộn theo nhau thành làn”. Dẫu hòa vào thiên nhiên, nhưng hoàn toàn bị cô lập tách biệt khỏi xã hội. Không gian này được xây dựng để miêu tả cảnh tượng lẻ loi, cô đơn của Chí Phèo, bị người đời xa lánh, khinh miệt. Túp lều ven sông trở thành một nơi đáng sợ với người dân trong làng, tượng trưng cho những định kiến xã hội thời bấy giờ. Không gian bụi chuối ven sông Khác hoàn toàn với những không gian trên, Nam Cao xây dựng không gian này đầy sự lãng mạn, nơi bắt đầu và chứng kiến mối tình của Thị Nở và Chí Phèo, mối tình nghịch đạo lý nhưng đã cứu sống được cả một đời người trước khi nó kịp lụi tàn. “Những tàu chuối đen nằm ngửa, ưỡn cong cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước, thỉnh thoảng bị gió lay lạy giãy lên đành đạch như là hứng tình”. Khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, tuyệt thơ mộng thường được dùng làm bối cảnh cho các mối tình lãng mạn. Vậy mà ở đây, Nam Cao đã để Chí Phèo gặp Thị Nở - người đàn bà “ngẩn ngơ, dở hơi, xấu xí” dưới thiên nhiên vô tư, trong trẻo đầy thi vị ấy. Không gian đầy vẻ lãng mạn, tượng trưng cho sức mạnh của tình yêu có khả năng cảm hóa con người, cứu sống một cuộc đời tưởng chừng đã tha hóa trong cốt tủy. Đây là không gian đánh dấu sự nhận thức mới trong Chí Phèo, từ một con quỷ của làng Vũ Đại, đến một người đàn ông khao khát được yêu thương. Chí đã có thể có lúc tỉnh táo để mà lắng nghe âm thanh của đất trời của những cô những chị đi chợ về. Rồi chợt Chí khao khát có thể cưới vợ rồi có mảnh đất ăn với không gian nơi sống của Chí Phèo, sự thay đổi do không gian bụi chuối ven sông tác động đã dẫn tới sự thay đổi về nhận thức, khiến Chí Phèo nhìn nơi mình sống một cách tươi tắn hơn, tràn đầy âm thanh hạnh phúc. Chí Phèo là một tác phẩm xuất sắc trong văn học hiện thực của Việt Nam, có rất nhiều nghệ thuật được tác giả sử dụng một cách tài tình, đầy dụng ý. Không phải ngẫu nhiên mà tác phẩm này trở thành kinh điển, vừa đả kích hiện thực, vừa ca ngợi tình yêu chân thành. Thảo Nguyên Bạn đang đọc các câu chuyện cổ tích tại website - Kho tàng truyện cổ tích chọn lọc Việt Nam và Thế Giới hay nhất và ý nghĩa cho mọi lứa tuổi dành cho thiếu nhi, tổng hợp trên 3000 câu chuyện cổ tích chọn lọc hay nhất Việt Nam và thế giới. Tại luôn được cập nhật thường xuyên, đầy đủ và chính xác nhất về truyện cổ tích giúp bạn dễ dàng tìm kiếm cho mình câu truyện cổ tích cần tìm. Danh sách những truyện cổ tích việt nam hay nhất Truyền thuyết Thánh gióng, truyện cổ tích tấm cám, sọ dừa, truyền thuyết về Sơn Tinh - Thủy Tinh, truyền thuyết hồ hoàn kiếm, sự tích trầu cau, sự tích con rồng cháu tiên, truyền thuyết thành cổ loa, Cóc kiện trời, Sự tích Táo Quân, chú thỏ tinh khôn, Sự tích chùa Một cột, Chàng ngốc học khôn, Sự tích sấm sét, Sự tích hoa Mào gà, Chử Đồng Tử và Công chúa Tiên Dung, truyện cổ tích trí khôn của ta đây, Sự tích con chuồn chuồn, Sự tích Hòn Vọng Phu, Truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy, sự tích cây khế, Sự tích Thánh làng Chèm, Sự tích thỏ tai dài đuôi ngắn, Sự tích hoa mười giờ, Sự tích chim Quốc, Sự tích công chúa Liễu Hạnh, Cây táo thần, thạch sanh,… Tổng hợp các câu chuyện cổ tích thế giới hay và ý nghĩa nhất, truyện cổ grimm, truyện cổ Andersen, cổ tích thần kỳ Nàng công chúa ngủ trong rừng, Alibaba và bốn mươi tên cướp, Nàng công chúa chăn ngỗng, Cô bé lọ lem, Chú bé tí hon, Ông lão đánh cá và con cá vàng, nàng bạch tuyết và bảy chú lùn, Truyện cổ tích Bà chúa tuyết, Aladdin và cây đèn thần, Ba sợi tóc vàng của con quỷ, Hoàng tử ếch, Con quỷ và ba người lính, Cô bé quàng khăn đỏ,…
nghệ thuật chí phèo